Lũ lụt sông Dương Tử năm 1931 đã ảnh hưởng đến 25 triệu người và cướp đi sinh mạng của 2 triệu người. Nghiên cứu mới cho thấy thảm họa có liên quan đến các yếu tố nhiệt đới và ngoài nhiệt đới, với các biện pháp phòng chống lũ lụt không đầy đủ đã làm trầm trọng thêm tác động của nó. Mùa hè năm 1931, một thảm họa chưa từng có đã xảy ra tại lưu vực sông Dương Tử ở miền đông Trung Quốc - trận lũ sông Dương Tử năm 1931, được mệnh danh là một trong những thảm họa thiên nhiên nguy hiểm nhất trong lịch sử. Thảm họa đã làm ngập lụt 180.000 km2 đất đai, ảnh hưởng đến cuộc sống của 25 triệu người và cướp đi sinh mạng của hơn 2 triệu người.

Chính quyền thành phố Hán Khẩu trong trận lũ lụt năm 1931. Mùa hè năm 1931, lũ lụt sông Dương Tử ở miền đông Trung Quốc đã trở thành một trong những thảm họa nguy hiểm nhất trong lịch sử, ảnh hưởng đến hơn 25 triệu người và cướp đi sinh mạng của 2 triệu người.

Bất chấp tác động xã hội to lớn của trận lũ lụt này, nguồn gốc của nó phần lớn vẫn chưa được khám phá, một thách thức càng tăng thêm do sự thiếu hụt các ghi chép lịch sử và dữ liệu khí tượng của Trung Quốc trước những năm 1950. Tuy nhiên, việc truy cập gần đây vào các bộ dữ liệu lịch sử quan trọng đã mở ra khả năng nghiên cứu trận lũ sông Dương Tử năm 1931.

Một chiếc thuyền tam bản trên Bến Thượng Hải, Vũ Hán, trong trận lũ lụt năm 1931. Được sưu tầm bởi John ('Jack') William Ephgrave và có tại Phòng trưng bày Ảnh Lịch sử Trung Quốc, Đại học Bristol, với tên Ep01-262. Nguồn hình ảnh: John ('Jack') William Ephgrave

Một nghiên cứu gần đây được công bố trên Tạp chí Khí hậu đã điều tra sự thật và cơ chế cơ bản của trận lũ sông Dương Tử năm 1931. Họ phát hiện ra rằng lũ lụt là kết quả của sự kết hợp giữa nhiệt độ bề mặt nước biển liên quan đến El Niño nhiệt đới và hoạt động sóng ngoài nhiệt đới nhiệt đới trên lục địa Á-Âu. Họ cũng tin rằng trận lũ lụt là một sự kiện phức hợp có điều kiện trước và có thể trở nên trầm trọng hơn do lượng mưa lớn vào mùa xuân trước.

Dẫn đầu công trình nghiên cứu này là Giáo sư Chu Thiên Quân đến từ Viện Vật lý Khí quyển, Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc. Nghiên cứu này dựa trên nhiều bằng chứng thuyết phục, bao gồm các quan sát bằng công cụ, bộ dữ liệu phân tích lại và mô phỏng mô hình hoàn lưu chung của khí quyển do nhiệt độ bề mặt nước biển lịch sử điều khiển.

"Chúng tôi phát hiện rằng lũ lụt ở lưu vực sông Dương Tử năm 1931 là do lượng mưa vào tháng 7." Zhou Yueqi, tác giả đầu tiên của nghiên cứu và là nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Đại học Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc, cho biết: "Mặc dù tổng lượng mưa vào tháng 7 năm 1931 thấp hơn so với thế kỷ trước. Xếp thứ hai, nhưng vượt qua nhiều năm mưa lớn khác từ năm 1951 đến năm 2010 về khả năng tồn tại",

Các nhà nghiên cứu nhận thấy lượng mưa dai dẳng vào tháng 7 năm 1931 có liên quan đến tình trạng ổn định ở Tây Thái Bình Dương. áp cao cận nhiệt đới (WPSH). Sau El Niño, nhiệt độ mặt nước biển ấm lên bất thường ở vùng nhiệt đới Ấn Độ Dương khiến WPSH mở rộng về phía tây nam. Đồng thời, chịu ảnh hưởng của hoạt động sóng áp cao cận nhiệt đới, dòng khí Tây di chuyển về phía Nam, cản trở sự di chuyển điển hình về phía Bắc của áp cao cận nhiệt đới trong tháng 7. Việc WPSH tiếp tục mở rộng về phía tây đã cố định các dải mưa dọc theo sông Dương Tử, do đó gây ra thảm họa này.

Trong nghiên cứu, các nhà khoa học cũng kiểm tra các nỗ lực phòng chống lũ lụt và cứu trợ thiên tai cho sự kiện này. Họ cho rằng việc thiếu các biện pháp phòng ngừa, ứng phó và thích ứng đầy đủ là nguyên nhân quan trọng gây ra hậu quả thảm khốc.

Giáo sư Chu Thiên Quân, tác giả tương ứng của nghiên cứu, cho biết: "Sự kiện lịch sử này đòi hỏi cộng đồng thích ứng với biến đổi khí hậu phải nghiên cứu sâu hơn."