Theo trang web chính thức của Giải thưởng Nobel, Quỹ Nobel đã quyết định số tiền thưởng cho mỗi giải Nobel năm 2023 sẽ tăng thêm 1 triệu kronor Thụy Điển (khoảng 660.000 nhân dân tệ), nghĩa là người đoạt giải năm 2023 sẽ nhận được 11 triệu kronor Thụy Điển (khoảng 7,34 triệu nhân dân tệ). Đây sẽ là số tiền thưởng lớn nhất trong lịch sử giải Nobel trong hơn 100 năm qua.
Năm 2001, kỷ niệm 100 năm giải thưởng Nobel, số tiền thưởng lần đầu tiên lên tới 10 triệu kronor Thụy Điển và kéo dài cho đến năm 2011. Cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra khiến tiền gốc của Quỹ Nobel bị thu hẹp. Năm 2012, số tiền thưởng giải Nobel giảm xuống còn 8 triệu krona Thụy Điển. Năm 2017, số tiền thưởng tăng từ 8 triệu kronor Thụy Điển lên 9 triệu và năm 2020 tăng lên 10 triệu.
Về việc tăng tiền thưởng, Quỹ Nobel cho biết tính đến cuối năm 2022, tổng giá trị thị trường vốn đầu tư của quỹ là 5,799 tỷ kronor Thụy Điển (khoảng 3,874 tỷ nhân dân tệ). Tổ chức đã chọn tăng giải thưởng vì "làm như vậy là khả thi về mặt tài chính."
Quỹ Giải thưởng Nobel chịu trách nhiệm quản lý tài sản của nhà phát minh thuốc nổ người Thụy Điển Alfred Nobel. Trong di chúc năm 1895, Nobel đã giao cho quỹ di sản trị giá 31,5 triệu krona Thụy Điển. Từ năm 1901 đến nay, sau khi trải qua hai cuộc chiến tranh thế giới và nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế, Quỹ Nobel đã quản lý di sản của Nobel và đạt được di sản thế kỷ như thế nào? Hai nhà nghiên cứu từ Đại học Giao thông Thượng Hải đã cố gắng đưa ra câu trả lời thông qua nghiên cứu của họ.
Theo lịch trình, danh sách các giải thưởng Nobel năm 2023 sẽ được công bố từ ngày 2 tháng 10. Các “Trí thức” cũng sẽ bước vào “Tuần lễ vàng giải Nobel” để mang đến cho độc giả thêm thông tin về các lĩnh vực khoa học tự nhiên của giải Nobel. 2
Ngày 3 tháng 10 - Giải Vật lý 11:45 CET (17:45 giờ Bắc Kinh)
Ngày 4 tháng 10 - Giải Hóa học 11:45 CET (17:45 giờ Bắc Kinh) TAG PH67
Ngày 5 tháng 10 - Giải Văn học tại 13:00 CET (19:00 giờ Bắc Kinh)
Ngày 6 tháng 10 - Giải thưởng Hòa bình lúc 11:00 CET (17:00 giờ Bắc Kinh)
TA GPH72Ngày 9 tháng 10 - Giải thưởng Kinh tế 11:45 Giờ Trung Âu (17:45 Bắc Kinh) time)Từ nội bộ đến bên ngoài, từ cá nhân đến tổ chức, sự "giữ gìn" toàn diện của thể chế Nobel đã giúp giải Nobel thế kỷ vẫn còn trẻ trung. Điều đáng kinh ngạc hơn nữa là số tiền quyên góp di sản của ông Nobel trị giá khoảng 31 triệu kronor Thụy Điển không chỉ được phân phối trong hơn 100 năm mà còn tăng giá trị lên tới 5,799 tỷ kronor Thụy Điển ngày nay! Và chỉ xét về giá trị danh nghĩa, số tiền thưởng phát hành năm 2015 (40 triệu SEK) đã đủ để tiêu hết số tiền quyên góp ban đầu này. Vậy, Quỹ Nobel, với tư cách là người quản lý tài chính của Giải thưởng Nobel, quản lý di sản của ông Nobel như thế nào để số tiền đó có thể tiếp tục hỗ trợ việc phân phối giải thưởng và đồng thời tăng giá trị?
Một trong "Ba quan điểm" - Giữ đủ của cải
Nobel thời trẻ (AlfredBernhardNobel)
Nguồn: WIki
Các khoản hiến tặng di sản là nguồn vốn đầu tư ban đầu cho Quỹ Nobel. Ông Nobel không chỉ là nhà hóa học nổi tiếng người Thụy Điển mà còn là kỹ sư, nhà phát minh và doanh nhân. Ông đã nắm giữ 355 bằng sáng chế trong đời và sử dụng chúng để thành lập gần một trăm nhà máy ở 20 quốc gia và xây dựng một đế chế công nghiệp toàn cầu. Người đàn ông này, được nhà văn vĩ đại người Pháp Hugo gọi là “người giàu nhất châu Âu”, chỉ để lại một lượng tài sản nhỏ cho các thành viên trong gia đình sau khi qua đời. Phần lớn tài sản có thể thực hiện được của ông được dùng để thành lập một quỹ do người thi hành án đầu tư và quản lý, đồng thời thu nhập đầu tư hàng năm được phân phối dưới dạng tiền thưởng cho những người có đóng góp nổi bật nhất cho nhân loại trong năm trước. Tổng giá trị tài sản ròng mà ông Nobel để lại vượt quá 31 triệu kronor Thụy Điển. Số tiền khổng lồ này đã tạo nền tảng tài chính cực kỳ vững chắc cho việc ra mắt và phát triển giải Nobel.
Thu nhập đầu tư là nguồn gốc đầu tư thường xuyên của Quỹ Nobel. Quỹ Nobel không gây quỹ từ bên ngoài nên không có nguồn tài trợ từ bên ngoài để bổ sung. Để ngăn chặn tình trạng hao hụt vốn đầu tư dài hạn do lạm phát gây ra, cần phải hình thành chức năng tạo máu nội bộ của quỹ. Theo Điều lệ của Quỹ Nobel (sau đây gọi là Điều lệ), quỹ phải phân bổ một phần thu nhập đầu tư của mình cho tiền gốc đầu tư hàng năm. Có hai cách để xác định số tiền này. Một là nhân tỷ lệ lạm phát của năm hiện tại với giá trị thị trường của quỹ, và hai là phân bổ trực tiếp 10% tổng thu nhập cho năm đó. Ví dụ: phương pháp đầu tiên được thực hiện vào năm 2012, với 26 triệu SEK được chuyển sang tiền gốc để duy trì giá trị quỹ đã điều chỉnh theo lạm phát, trong khi phương pháp thứ hai được thực hiện vào năm 2013, với 13,2 triệu SEK được chuyển.
Việc miễn thuế là nguồn gốc ngầm của khoản đầu tư của Quỹ Nobel. Khi mới thành lập, các khoản đầu tư của Quỹ Nobel phải đối mặt với gánh nặng thuế nặng nề. Trong một thời gian dài, Quỹ Nobel là cơ quan đóng thuế lớn nhất ở Stockholm. May mắn thay, Thụy Điển và Hoa Kỳ đã cấp quy chế miễn thuế cho tổ chức phi lợi nhuận này lần lượt vào năm 1946 và 1953. Theo một nghĩa nào đó, việc miễn thuế tương đương với khoản đóng góp gốc hàng năm của chính phủ cho Quỹ Nobel. Ngoài ra, theo Điều lệ, “Nếu người đoạt giải từ chối nhận giải Nobel hoặc séc giải thưởng không được quy đổi thành tiền mặt theo quy định của Hội đồng quản trị trước ngày 1 tháng 10 năm sau thì giải thưởng sẽ được tính vào tiền gốc của Quỹ”. "Nếu vì lý do nào đó mà giải thưởng không được trao thì giải thưởng sẽ được giữ lại cho đến năm sau. Nếu đến thời điểm đó mà giải thưởng không được trao thì giải thưởng sẽ được cộng vào tiền gốc của Quỹ." Đây là một số nguồn vốn đầu tư có thể có.
Mặc dù đã phải chịu tác động của việc thu hẹp tiền gốc, do nguồn vốn khởi nghiệp khổng lồ làm nền tảng, cũng như sự bảo vệ hai chiều về việc chuyển thu nhập về nước (nguồn mở) và ưu đãi miễn thuế (điều chỉnh), tiền gốc đầu tư của Quỹ Nobel đã được bảo toàn trong thời gian dài và đã đạt được mức tăng trưởng vượt xa lạm phát. Tính đến cuối năm 2014, bao gồm cả tài sản riêng của mình, giá trị thị trường đầu tư của Quỹ Nobel đạt 3,87 tỷ krona Thụy Điển (khoảng 3,1 tỷ nhân dân tệ) và giá trị thực tế của nó tăng 226% so với thời điểm bắt đầu thành lập.
Ý chí của Nobel丨Nguồn: nobelprize.org
“Ba lượt xem” 2 - Quản lý tốt tài chính của bạn
Do sứ mệnh đặc biệt của mình, nhiều quỹ nước ngoài chú ý hơn đến sự an toàn và ổn định khi sử dụng vốn trường để duy trì và tăng giá trị tài sản của họ. Điều lệ ban đầu quy định rằng Quỹ Nobel chỉ có thể đầu tư vào các sản phẩm có thu nhập cố định, được bảo đảm hoặc thế chấp như trái phiếu và các khoản vay. Tuy nhiên, cách tiếp cận quản lý tài chính quá thận trọng này đã hạn chế sự tăng trưởng của thu nhập, khiến việc trao giải Nobel ngày càng khó khăn. Năm 1953, chính phủ Thụy Điển nới lỏng các chính sách, cho phép Quỹ Nobel tự do đầu tư vào cổ phiếu và bất động sản, những loại tài sản từng bị giới hạn. Được thúc đẩy bởi cả miễn thuế và chính sách đầu tư tự do, cách quản lý đầu tư của Quỹ Nobel đã thay đổi từ thụ động sang chủ động và đảo ngược thành công xu hướng suy giảm của các quỹ đầu tư, trở thành một thay đổi mang tính bước ngoặt trong lịch sử đầu tư của tổ chức này.
Vào những năm 1980, Quỹ Nobel đã mở ra một thời kỳ đầu tư thuận lợi. Thị trường chứng khoán tăng giá chiếm ưu thế từ năm 1982 đến năm 1999, cũng trùng hợp với thời kỳ bùng nổ bất động sản ở Stockholm. Quỹ Nobel, tổ chức đã đầu tư một lượng lớn bất động sản ở đó, đã thu được lợi nhuận đáng kể. Năm 1986, tài sản của Quỹ Ford, quỹ lớn nhất ở Hoa Kỳ vào thời điểm đó, giảm gần gấp đôi từ 2,8 tỷ USD (năm 1970) lên 4,7 tỷ USD, trong khi giá trị thị trường của Quỹ Nobel gần như tăng gấp năm lần trong cùng thời kỳ. Năm 1987, Hội đồng quản trị đã chuyển phần lớn bất động sản của quỹ cho một công ty đại chúng độc lập, Beväringen, và bán cổ phần của mình trong công ty trước khi bong bóng bất động sản vỡ vào đầu những năm 1990. Stieg Rammel, khi đó là giám đốc điều hành của Quỹ Nobel, không chỉ xác định xu hướng trên thị trường bất động sản mà còn tập trung vào việc đa dạng hóa đầu tư trên toàn cầu để giảm thiểu rủi ro và khai thác các điểm tăng trưởng đầu tư. Ông chịu trách nhiệm về các khoản đầu tư trong nước ở Thụy Điển, trong khi các khoản đầu tư xuyên biên giới được bàn giao cho các chuyên gia tư vấn tài chính bên ngoài. Phương pháp quản lý tích hợp bên trong và bên ngoài này nêu bật những ưu điểm của nó trong môi trường đầu tư ngày càng phức tạp.
Năm 2007, Quỹ Nobel đầu tư 67% vào cổ phiếu, phần lớn là cổ phiếu của các công ty châu Âu và Mỹ. Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, các quỹ trở nên ngại rủi ro hơn trong đầu tư chứng khoán, với tỷ lệ đầu tư về cơ bản duy trì ở mức chỉ trên 50%. Tỷ lệ đầu tư vào cổ phiếu và trái phiếu đều có xu hướng giảm và các lĩnh vực đầu tư trọng điểm của quỹ đã mở rộng sang các khoản đầu tư thay thế có năng suất cao như quỹ phòng hộ và bất động sản theo xu hướng thị trường. Như thể hiện trong hình bên dưới, tính đến cuối năm 2014, danh mục đầu tư của Quỹ Nobel là cổ phiếu (55%), trái phiếu (12%) và các lựa chọn thay thế (33%). Điều đáng chú ý là các quỹ phòng hộ chiếm gần 1/4. Mặc dù hiệu quả đầu tư của Quỹ Nobel không mấy lạc quan trong thời kỳ khủng hoảng nhưng nó đã phục hồi đôi chút trong hai năm qua. Ví dụ, tổng lợi nhuận đầu tư trong năm 2013 và 2014 lần lượt là 16,4% và 11,8%. Thu nhập đầu tư chính của Quỹ Nobel vẫn đến từ cổ phiếu (26,6%, 2014). Ngoài ra, tỷ suất lợi nhuận của vốn cổ phần tư nhân (16,7%, 2014) cũng được cải thiện. Khoản đầu tư trái phiếu chuyển đổi mới được bổ sung vào cuối tháng 5 năm 2014 có tỷ lệ hoàn vốn đầu tư hàng năm là 16,7% vào cuối năm đó.
Phân bổ tài sản của Quỹ Nobel (31 tháng 12 năm 2014)
Biểu đồ theo tác giả
Với việc phân bổ tài sản hợp lý, đa dạng hóa đầu tư toàn cầu và mở rộng các khoản đầu tư thay thế, cơ quan quản lý đầu tư của Quỹ Nobel đã có đã vượt qua thử thách của thị trường nhưng vẫn có những phản ví dụ. Wenner-Grenska Samfundet, một tổ chức gần như vô danh, cũng là một tổ chức của Thụy Điển. Nó được thành lập vào năm 1937 với sự quyên góp của nhà công nghiệp và ông trùm Thụy Điển Axel Wenner-Gren và vợ ông. Bối cảnh thành lập quỹ rất giống với bối cảnh của Quỹ Nobel. Tuy nhiên, các dự án mà nó đầu tư quá rủi ro và chiến lược của giám đốc đầu tư đã mắc sai lầm nghiêm trọng. Kết quả là tài sản từng lên tới 40 triệu kronor Thụy Điển đã giảm xuống chỉ còn chưa đến vài triệu. Hơn nữa, các thành viên của quỹ đã bị truy tố từ tháng 11 năm 1973. Có người từng dự đoán rằng nếu tài sản của quỹ được sử dụng để đầu tư chứng khoán thì quy mô tài sản vào thời điểm đó sẽ vượt quá Quỹ Nobel.
Người thứ ba trong "Ba lượt xem" - Sanquancai
Số lượng giải thưởng Nobel do Hội đồng Quỹ quyết định và số tiền của mỗi giải thưởng cá nhân bằng nhau. Cụ thể, 10% thu nhập đầu tư ròng của Quỹ Nobel mỗi năm được tái đầu tư vào tiền gốc, 90% còn lại được chia thành 5 phần bằng nhau và giao cho từng tổ chức đoạt giải. Sau khi mỗi tổ chức nhận được số tiền tương ứng, 25% sẽ được khấu trừ dưới dạng phí trao giải và tài trợ của Viện Nobel, 75% còn lại sẽ là số tiền của mỗi giải Nobel năm đó. Hơn 100 năm qua, số tiền thưởng Nobel đã thay đổi rất nhiều. Theo tâm nguyện cuối cùng của Nobel, số tiền thưởng khoảng 150.000 kronor Thụy Điển vào năm 1901 đúng bằng 20 năm lương của một giáo sư lúc bấy giờ. Sau đó, số tiền thưởng tăng giảm, cho đến năm 1991, khoản tiền thưởng 6 triệu krona Thụy Điển mới bằng giá trị thực của khoản tiền thưởng đầu tiên cách đây 90 năm.
Theo mong muốn cuối cùng của ông Nobel, chỉ có thu nhập trực tiếp của quỹ, tức là tiền lãi và cổ tức, mới có thể được sử dụng cho giải Nobel. Tuy nhiên, bắt đầu từ năm 2000, Quỹ Nobel đã được phép sử dụng tiền lãi từ việc bán tài sản để trả tiền thưởng và trang trải chi phí hàng ngày. Năm 2001, nhân kỷ niệm 100 năm giải thưởng Nobel, số tiền thưởng lần đầu tiên đạt 10 triệu kronor Thụy Điển và tiếp tục cho đến năm 2011. Cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra khiến tiền gốc của Quỹ Nobel sụt giảm và thu nhập ảm đạm. Tuy nhiên, cùng lúc đó, chi phí của Quỹ Nobel tiếp tục tăng lên hàng năm. Lars Heikenstein, giám đốc điều hành hiện tại của Quỹ Nobel, cho rằng trong tình hình này quỹ vẫn có thể duy trì trong 30 năm, nhưng giải thưởng Nobel là sự nghiệp vĩnh cửu, “chúng ta nên đáp trả điều này”. Bắt đầu từ năm 2012, số tiền thưởng giải Nobel đã giảm xuống còn 8 triệu kronor Thụy Điển nhằm giảm thất thoát tiền gốc và đảm bảo việc thanh toán tiền thưởng một cách bền vững. Ngoài ra, Quỹ Nobel còn có quỹ dự trữ khẩn cấp. Ngay cả trong tình huống cực đoan gần như không thể nhận được là không nhận được thu nhập đầu tư trong hai năm liên tiếp, quỹ vẫn có thể phân phối tiền thưởng như bình thường mà không cần phải sử dụng tiền gốc.
Năm 1968, nhân dịp kỷ niệm 300 năm thành lập, Riksbank đã quyên góp một số tiền lớn cho Quỹ Nobel và thành lập Giải thưởng Riksbank về Khoa học Kinh tế để tưởng nhớ Alfred Nobel. Tiền thưởng cho giải thưởng này không phải do Quỹ Nobel cung cấp. Thay vào đó, ngân hàng trung ương Thụy Điển tài trợ số tiền tương đương với số tiền thưởng Nobel mỗi năm. Hơn nữa, Riksbank cần phải trả thêm kinh phí cho Quỹ Nobel bằng 65% số tiền thưởng của năm hiện tại để bù đắp chi phí tuyển chọn người đoạt giải kinh tế. Sau khi thành lập Giải thưởng Kinh tế, Quỹ Nobel quyết định không bổ sung thêm bất kỳ giải thưởng nào mang tên Nobel.
Từ góc độ rút tiền thưởng, Quỹ Nobel kiểm soát hai khía cạnh sau: Thứ nhất, các quy tắc rút tiền thưởng nghiêm ngặt và sự chuẩn bị khẩn cấp cho phép tổ chức xây dựng số tiền thưởng hợp lý và đáng tin cậy, không chỉ đảm bảo việc trao tiền thưởng Nobel liên tục mà còn tránh việc sử dụng tiền gốc. Thứ hai, kiên quyết tuân thủ giải thưởng Nobel ban đầu, không tăng cũng không giảm. Điều này không chỉ tôn trọng tâm nguyện cuối cùng của ông Nobel mà còn ngăn chặn những vấn đề bên ngoài gây ra sự phân tán năng lượng và tài chính, từ đó đảm bảo tính bền vững của chính giải Nobel.
1901, Lễ trao giải Nobel đầu tiên
Được tổ chức tại Học viện Âm nhạc Hoàng gia Cũ ở Stockholm丨Nguồn: nobelprize.org
Con đường đến với các quỹ bền vững
Quỹ tài trợ có thể được chia thành hai mô hình, loại chi tiêu và loại vĩnh viễn. Tiền gốc của quỹ chi tiêu có thể được sử dụng hết ngay lập tức hoặc trong một khoảng thời gian nhất định, trong khi tiền gốc của quỹ vĩnh viễn không thể được sử dụng mà được sử dụng để đầu tư nhằm tạo thu nhập và thu nhập được sử dụng cho các nhu cầu. Bản chất của hoạt động sau này là kết hợp tiền gốc mạnh, đầu tư chuyên nghiệp và chi tiêu hợp lý để vốn ban đầu có thể liên tục tạo ra lợi nhuận.
Bắt đầu từ khoản hiến tặng di sản của ông Nobel, Quỹ Nobel kiểm soát việc quản lý tài sản xoay quanh “ba khái niệm” là giữ đủ tiền, quản lý tiền tốt và phân tán tiền, đồng thời đã đi theo con đường đúng đắn của một quỹ bền vững. Giữ đủ tiền: Có quỹ gốc mạnh là một lợi thế, nhưng chỉ bằng cách không sử dụng tiền gốc đầu tư và giữ lại giá trị thực tế của tiền gốc thông qua việc duy trì thu nhập hàng năm thì bạn vẫn có đủ vốn để kiếm tiền trong tương lai. Quản lý tiền tốt: điều chỉnh chiến lược đầu tư kịp thời theo điều kiện thị trường và xu hướng chính sách, dần dần chuyển từ bảo thủ và thụ động sang chủ động và chủ động, đồng thời khám phá các điểm tăng trưởng đầu tư mới để liên tục nhận ra sự đánh giá cao của tiền gốc. Nguồn tài trợ gần như phân tán: Số tiền thưởng linh hoạt và phạm vi giải thưởng cố định làm cho dòng tiền ra của quỹ nền tảng trở nên hợp lý và có thể kiểm soát được.
Một thế kỷ hoạt động không ngừng nghỉ đã tích lũy được thương hiệu cho giải thưởng Nobel và việc duy trì huyết mạch kinh tế cho hoạt động của nó là đặc biệt quan trọng. Có thể nói, mô hình quản lý tài sản bền vững là không thể thiếu để giải Nobel vận hành thành công. Đây cũng là mô hình quản lý được nhiều quỹ tài trợ của trường đại học nước ngoài áp dụng. Tuy nhiên, mô hình hoạt động của Quỹ Nobel và quỹ tài trợ của trường đại học là khác nhau: một mặt, Quỹ Nobel không gây quỹ từ bên ngoài, và tiền gốc của nó chủ yếu đến từ các khoản đóng góp khổng lồ một lần của Nobel và tiếp tục duy trì thu nhập đầu tư, trong khi quỹ tài trợ của trường đại học gây quỹ quanh năm, và tiền gốc của nó đến từ các khoản đóng góp xã hội liên tục và duy trì thu nhập đầu tư liên tục; mặt khác, Quỹ Nobel chỉ tài trợ cho giải thưởng Nobel, trong khi quỹ tài trợ của trường đại học hỗ trợ sự phát triển của trường từ nhiều mặt như tài chính tổng thể, đầu tư nghiên cứu khoa học, giảng viên và học bổng sinh viên. Vì vậy, mô hình bền vững quỹ tài trợ của trường đại học phức tạp hơn, tác động của mô hình quản lý tài chính bền vững cũng rõ ràng hơn, đòi hỏi phải nghiên cứu sâu và nhiều hơn.
Các nền tảng của đất nước tôi đã hình thành từ những năm 1980. Tính đến đầu tháng 2/2015, tổng số cơ sở đã lên tới 4.268 cơ sở. Các khoản quyên góp của doanh nghiệp và cá nhân tiếp tục tăng và các khoản quyên góp lớn xuất hiện thường xuyên. Vào năm 2014, 24 người ở nước tôi đã quyên góp hơn 100 triệu nhân dân tệ hàng năm và hầu hết trong số họ tập trung vào các lĩnh vực phúc lợi công cộng như giáo dục đại học. Một số lượng lớn các quỹ ngoài công lập ra đời, đặc biệt là các quỹ do doanh nghiệp trong nước thành lập. Họ thường có quỹ trước rồi mới thành lập quỹ theo mục đích và điều lệ của quỹ. Tuy nhiên, do thời gian còn ngắn nên các quỹ của nước tôi vẫn đang trong giai đoạn thăm dò về vận hành dự án, quản lý quỹ và các mặt khác. Dựa trên kinh nghiệm quản lý tài chính bền vững của Quỹ Nobel sẽ giúp các quỹ của đất nước chúng ta trở thành mục tiêu vĩnh cửu, cho phép các quỹ quyên góp hoạt động hiệu quả hàng năm.
Bản vẽ thiết kế Trung tâm Nobel, dự kiến khởi công xây dựng vào năm 2017 và khai trương vào tháng 12 năm 2019
sẽ bao gồm các triển lãm, bài giảng và cơ sở giáo dục liên quan đến Giải Nobel
Nguồn: NobelCenter
Viết bởi Yu Kai, Xu Yang
Người biên tập bởi Chen Xiaoxue